Créer un nouveau blog :

A propos de ce blog


Nom du blog :
tonthatphusi
Description du blog :
tonthatphusi
Catégorie :
Blog Poésie
Date de création :
29.08.2010
Dernière mise à jour :
29.01.2015

RSS

Navigation

Accueil
Gérer mon blog
Créer un blog
Livre d'or tonthatphusi
Contactez-moi !
Faites passer mon Blog !

Articles les plus lus

· Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư
· HẢI QUÂN VNCH NIỀM VUI HỘI NGỘ * 04-09-2011
· TÔN THẤT PHÚ SĨ - THƠ CHUYỂN NGỮ
· Hình ảnh tuổi thơ và trò chơi đồng quê Việt Nam.
· MỘT TRONG MUÔN NGÀN KỶ NIỆM VỀ MẸ - Tôn Thất Phú Sĩ

· NHỮNG VẦN THƠ VỀ BIỂN CỦA TÔN THẤT PHÚ SĨ
· TÔN THẤT PHÚ SĨ - DIMANCHE - 05 - FEVRIER 2012
· HẢI QUÂN VIỆT NAM CỌNG HOÀ
· Tôn Thất Phú Sĩ - TÂM SỰ CỦA CHỊ NGUỴ VĂN THÀ
· KHOÁ 7 HQ-VNCH * ĐỆ NHẤT THIÊN XỨNG
· Huế vào hè với Phượng vĩ và ve sầu
· Phó Đề-Đốc NGUYỄN HỮU CHÍ
· MỸ THO QUÊ HƯƠNG EM - TÔN THẤT PHÚ SĨ - MỘC THIÊNG
· NHỮNG VẦN THƠ MÙA HÈ - TÔN THẤT PHÚ SĨ
· PHƯỢNG HỒNG MÙA HẠ

Voir plus 

Statistiques 1461 articles


Thèmes

air amour article 2010 automne background belle blog bonne carte centerblog chien

Derniers commentaires
  RSS
Recherche
Recherche personnalisée

CHANT D'AUTOMNE * I- II - Ch. BAUDELAIRE - tôn thất phú sĩ

Publié le 29/01/2015 à 20:42 par tonthatphusi Tags : blog rouge image centerblog moi amour mer coeur automne fleurs hiver google douceur horreur poème
CHANT D'AUTOMNE * I- II - Ch. BAUDELAIRE - tôn thất phú sĩ
CHANT D'AUTOMNE - Charles BAUDELAIRE - TÔN THẤT PHÚ SĨ

*

CHANT D'AUTOMNE * I
*
Bientôt nous plongerons dans les froides ténèbres ;
Adieu, vive clarté de nos étés trop courts !
J'entends déjà tomber avec des chocs funèbres
Le bois retentissant sur le pavé des cours.
*
Tout l'hiver va rentrer dans mon être : colère,
Haine, frissons, horreur, labeur dur et forcé,
Et, comme le soleil dans son enfer polaire,
Mon coeur ne sera plus qu'un bloc rouge et glacé.
*
J'écoute en frémissant chaque bûche qui tombe ;
L'échafaud qu'on bâtit n'a pas d'écho plus sourd.
Mon esprit est pareil à la tour qui succombe
Sous les coups du bélier infatigable et lourd.
*
Il me semble, bercé par ce choc monotone,
Qu'on cloue en grande hâte un cercueil quelque part.
Pour qui ? - C'était hier l'été ; voici l'automne !
Ce bruit mystérieux sonne comme un départ.
*
Charles BAUDELAIRE (1821-1867)

 

BÀI HÁT MÙA THU * 1

*

Trong khoảng khắc , trời bỗng dưng se lạnh
Giã biệt mùa hè ngắn ngủi qua mau
Nghe tang tác đâu đây mùa thu đến
Lá bắt đầu vàng , một góc thân quen

*

Rồi đông về trong nỗi buồn tê tái
Mưa gió tơi bời lạnh lẽo buốt da
Và , mặt trời đã đi vào địa ngục
Trái tim tôi một tảng đá băng sầu

*

Tôi rùng mình nghe cành khô rơi rụng
Như oan hồn bị chết thảm kêu oan
Tâm trí mơ hồ thường xuyên giao động
Ôi !nặng nề không biết trốn nơi đâu
*

Nghe rất rõ tiếng gõ đều vang lại
Như có ai đóng vội nắp quan tài
Xin ai đó ? hè đi thu đã đến
Nghe âm xa như có tiếng khởi đầu

*

tôn thất phú sĩ - phỏng dịch

NGUỒN

 

CHANT D'AUTOMNE * II

*

J'aime de vos longs yeux la lumière verdâtre,
Douce beauté, mais tout aujourd'hui m'est amer,
Et rien, ni votre amour, ni le boudoir, ni l'âtre,
Ne me vaut le soleil rayonnant sur la mer.

*

Et pourtant aimez-moi, tendre coeur ! soyez mère,
Même pour un ingrat, même pour un méchant ;
Amante ou soeur, soyez la douceur éphémère
D'un glorieux automne ou d'un soleil couchant.

*

Courte tâche ! La tombe attend ; elle est avide !
Ah ! laissez-moi, mon front posé sur vos genoux,
Goûter, en regrettant l'été blanc et torride,
De l'arrière-saison le rayon jaune et doux !
*

Charles BAUDELAIRE (1821-1867)

BÀI HÁT MÙA THU * 2

*

Đôi mắt em long lanh màu ngọc bích
Đẹp vô cùng nhưng cay đắng hôm nay
Đã mất rồi tình thương yêu nồng ấm
Nắng tàn phai trên biển sóng hoang tàn
*
Xin thương anh , bằng trái tim của mẹ
Dẫu biết rằng anh phản bội tình em
Xin dịu dàng đừng buông lời cay đắng
Trong hoàng hôn hay ảm đạm thu vàng
*
Này em ơi ! nấm mồ sâu đang đợi
Cho anh nằm tựa gối vào lòng em
Cho anh quý một mùa hè hối hận
Phút giao mùa êm ái nắng vàng thêm
*

tôn thất phú sĩ - phỏng dịch

Charles Pierre Baudelaire :


( 9 tháng 4 năm 1821 – 31 tháng 8 năm 1867 )

là một trong những nhà thơ có ảnh hưởng lớn nhất ở Pháp, trong thế kỷ 19, ông thuộc trường phái tượng trưng chủ nghĩa. Ông sinh năm 1821 tại Paris. Năm 1827, cha ông qua đời. Sau đó, mẹ ông tái giá và gửi ông vào một trường nội trú. Ông cùng gia đình tới Ấn Độ vào năm 1841. Khoảng một năm sau đó, ông trở về Paris, đối mặt với cuộc sống thiếu thốn và bắt đầu sáng tác. Ông có tham gia cuộc Cách mạng năm 1848 kết thúc nền Quân chủ tháng Bảy. Trong thời kỳ này, ông gặp một phụ nữ đẹp tên là Jeanne Duval, và chính người này đã đem nhiều cảm xúc và thi hứng cho ông. Năm 1867, ông qua đời sau một thời gian ốm nặng.
Ông đã viết nhiều bài tiểu luận phê bình nghệ thuật, dịch thơ Edgar Allan Poe, xuất bản tập thơ Les Fleurs du Mal ...

Sau cái chết của ông, một số tác phẩm như Journaux intimes (Nhật ký riêng tư) và Petits poème en prose (Những bài thơ nhỏ viết theo thể văn xuôi) mới được xuất bản.



TÔN THẤT PHÚ SĨ - BON JEUDI

Publié le 29/01/2015 à 17:29 par tonthatphusi Tags : image centerblog gif background france photos internet film chat google
TÔN THẤT PHÚ SĨ - BON JEUDI
 

BẾN ĐỢI 1 VÀ 2 - BIBLIOTHÈQUE UNIVERSITÉ SORBONNE-PARIS

TÔN THẤT PHÚ SĨ - BON JEUDI

*

Hình ảnh

SG 1972

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo....

DỊCH THƠ - VÕ PHIẾN

..... Bạn đã thấy rồi mà. Ðâu còn chuyện nào gọi là chuyện dịch thơ nữa? Chỉ có công việc tái sáng tạo, tái tạo một bài thơ khác. Lấy cái ý cái tứ của bài gốc, sáng tạo ra một bài mới trong đó có phong cách riêng của mình, có quá nửa cái tình tứ riêng của mình, với cái giọng đặc biệt của mình, với điệu thơ riêng thích hợp cho miệng lưỡi mình.
Cho nên dịch thơ không phải là dịch...

Trân trọng giới thiệu : " Tập 102 bài thơ PHÁP-ANH - Tôn Thất Phú Sĩ_phỏng dịch " sắp xuất bản

102 BÀI THƠ PHÁP - ANH * TTPS PHỎNG DỊCH

*

Click for Paris, France Forecast Click for Los Angeles, California ForecastClick for Hanoi, Viet Nam Forecast
Paris - Los Angeles - SaiGon
 
good morning tach cafe 2
THÂN MẾN KÍNH MỜI QUÝ THÂN HỮU CAFÉ PARISIEN

CÒN NỢ - NHẬT NGÂN cảm tác từ chuyện dài của

HOÀNG ĐÌNH BÁU - Ca Sĩ QUANG MINH

TRANG NHÀ VŨ THẤT

CON TÀU CỦA THẾ KỶ 20 - KS Nguyễn Văn Phảy

DU LỊCH WHISTLER- BC , CANADA Tam Giang Hoàng Đình Báu
NIỀM VUI CỦA TUỔI GIÀ TRONG THỜI ĐẠI_INTERNET

SQHQ-K15 - DẤU THỜI GIAN

VIỆT NAM FILM CLUB
TIN PARIS

DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

ĐÂY HUỲNH TẤN MẪM

NGƯỜI VIỆT LY HƯƠNG
ĐẠI HỘI TOÀN CẦU SVSQ-HQ-NHATRANG

CUỘC ĐỜI CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN BÁ CẨN

NGÀY TÀN CỦA ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

HỎI LÀ TRẢ LỜI

NHÌN LẠI NỀN GIÁO DỤC VNCH ; SỰ TIẾC NUỐI VÔ BỜ BẾN

LỊCH SỬ CẦN NHẤT LÀ SỰ KHÁCH QUAN

SAIGON HAY HỒ CHÍ MINH - Nguyễn Thanh Nam

ĐỌC BÁO VẸM

HỒN VIỆT "QUỐC KỲ - QUỐC CA" VIỆT NAM
RFA-VIETNAMESE

VOA-VIETNAMESE
DÂN LÀM BÁO
QUAN LÀM BÁO

ANH BA SÀM
VIỆT VÙNG VỊNH

SUY TƯ VỀ NHAN ĐỀ MỘT TẬP THƠ – VŨ QUỐC THÚC

Publié le 29/01/2015 à 10:18 par tonthatphusi Tags : blog roman article 2010

*

GS Vũ Quốc Thúc - Paris 2011

*

SUY TƯ VỀ NHAN ĐỀ MỘT TẬP THƠ


  Nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ có mỹ ý gửi cho tôi một tập thơ ông dự định xuất bản, yêu cầu tôi viết vài lời giới thiệu. Mỹ ý này khiến tôi thành thật cảm kích. Tôi không phải là một thi nhân, mặc dầu đôi khi cũng góp vui đôi ba vần cảm hứng. Tôi cũng không phải một người chuyên khảo về thơ.Trái lại, tôi chỉ là một chuyên viên học luật, một thành phần dễ bị chê bai là hay lý luận kiểu thầy cò, chẻ sợi tóc làm đôi, bới lông tìm vết. Tệ hơn nữa, tôi còn là một kinh tế gia, quen xử dụng những bản thống kê phi nhân, vô cảm. Bình luận thơ của một thi sĩ chính danh, đối với tôi, quả là một việc liều lĩnh.Tôi ngần ngại, chưa biết viết gì để khỏi phụ lòng bạn quý thì chính lúc đó nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ lại tặng tôi Tập Thơ BẾN ĐỢI ông đã xuất bản chung với bà chị là nữ sĩ Kim Thành, năm 2007. Ông cho tôi hay rằng tập thơ sắp ra sẽ mang tên BẾN ĐỢI 2, dĩ nhiên với sự đồng ý của nữ sĩ Kim Thành. Điều này chứng tỏ là nhan đề BẾN ĐỢI có một ý nghĩa rất quan trọng đối với hai nhà thơ. Ý nghĩa gì? Tôi vội vã gửi một điện thư cho bạn Phú Sĩ, thỉnh cầu ông giải tỏa những thắc mắc của tôi. Hơn một ngày sau - có lẽ vì cần hội ý với nữ sĩ Kim Thành ở Hoa Kỳ - nhà thơ Phú Sĩ đã cho tôi biết là trong BẾN ĐỢI luôn luôn có sự đợi chờ, tình yêu trong BẾN ĐỢI là tình yêu lý tương và chung thủy. Câu trả lời của nhà thơ Phú Sĩ khêu gợi sự hiếu kỳ của tôi về một số điểm: Ai yêu? Yêu ai? Thế nào là tình yêu lý tưởng? Chờ đợi ai? Hay chờ đợi một sự việc gì? Chờ đợi đến bao giờ mới là chung thủy? Bến đợi ở nơi đâu? Có thật hay chỉ là mộng tưởng?
 *
  Để tìm giải đáp cho những câu hỏi tế nhị này, tôi quyết định đọc từng bài trong hai tập thơ nhận được gồm 38 bài thơ của Kim Thành ( trong Thi Tập Bến Đợi đã xuất bản ) và 76 bài thơ của Phú Sĩ ( thơ đã và chưa xuất bản ). Cuộc "điều nghiên" đã đem đến cho tôi một số khám phá thú vị.
 
     Trước hết tôi đã gạt bỏ được một thành kiến sai lầm đối với loại thơ được gọi là thơ tự do. Từ lâu tôi vẫn tưởng rằng các thể thơ đều phải tuân thủ một số quy tắc bất khả xâm phạm về yếu vận, về cước vận, về âm thanh bằng trắc, về số từ trong mỗi câu v.v...Do đó mỗi khi thấy một bài thơ tự do, tôi thường chỉ lướt qua, không thiết tìm hiểu, chứ đừng nói chi tôi đọc đi đọc lại rồi ngâm nga khi cảm hứng! Nay đọc hơn trăm bài thơ của Kim Thành và Phú Sĩ, tôi mới thấy cái hay của thơ tự do khi tác giả dùng những lời giản dị, trong trẻo, những hình ảnh thông thường để diễn tả chân thành tâm trạng của mình với một âm điệu rất thơ. Đọc thơ của hai vị , tôi có cảm giác như chính tôi đang xúc động, đang mơ màng, đang suy tư. Nói khác, tôi cảm thông tức thì nỗi buồn, nỗi nhớ, niềm mong ước và cả tâm trạng bâng khuâng, vô định, thoát khỏi trần tục của hai vị. Phải chăng đó là ưu điểm của thơ tự do khi tác giả không để cho những quy tắc ước lệ hay những điển tích sách vở gò bó mình. Những câu thơ dài 7,8 chữ xen lẫn những câu chỉ có 2,3 chữ khiến tôi nghĩ tới nhịp tim đang hồi họp của một cựu thủy thủ đa cảm trên đường phiêu lãng cũng như sự thổn thức của người sương phụ khóc chồng...
 
 " Đời nghiêng nghiêng bóng hoàng hôn chợt tới
Như nhắc nhở
Một ngày không xa
Nước mắt em sẽ dài hơn hơi thở
Nỗi khổ sẽ vỡ bờ
Và trái đắng sẽ rớt thành thơ
Khi dốc mơ trần gian đành khép lại
Chị đi tìm anh cuối nẻo mịt mùng..."

( Kim Thành, Nhớ Nghe Em )
 
Như vậy đó :
 
Bờ bên này rất gần bờ bên kia
Mình vẫn xa ngàn dặm
Con sông chảy qua bao miền ước vọng
Hai bờ sông vẫn mãi mãi song song.....
 
( Tôn Thất Phú Sĩ , Một Thoáng Mong Manh )
 
  Trở lại nhan đề Bến Đợi, ta thấy hai nhà thơ Kim Thành và Phú Sĩ đã xuất bản những bài thơ riêng của mình trong một tập thơ chung với một nhan đề chung. Điều đó chứng tỏ là hai vị dù xa nhau cả một đại dương nhưng gần nhau trong tâm trạng buồn - nhớ.
 
    Đọc thơ của Kim Thành, ta thấy rõ là bà dành tất cả tình yêu cho người chồng mất sớm: yêu ai yêu cả một đời. Không những thế , bà còn ước nguyện gặp lại người bạn đời trong kiếp sau:
 
 Vậy là anh ơi đời ta đôi ngả
Hẹn kiếp sau trả nốt nợ trăm năm

( Kim Thành, Bỗng Một Hôm )
 
Bà nhất định " Ta Chừ Vẫn Đợi " , dẫu rằng:
 
Phút tương phùng anh ơi mong manh quá
Nhìn bốn bề chỉ thấy một hư không

( Kim Thành, Ta Chừ Vẫn Đợi )
 
  Đọc thơ của Phú Sĩ, tôi cố tìm hiểu xem ông có yêu ai thắm thiết như bà Kim Thành yêu chồng không? Tôi chỉ thấy hoặc là một bạn gái hồi còn thơ ấu, yêu mà không biết rằng yêu, hoặc là một thiếu nữ thường gặp vì nhà cô ta ở trên đường đi tới trường Đại Học Huế, hoặc là một người ông yêu âm thầm không dám nói ra, đến lúc tỏ tình thì lại phải xa cách ngay vì nhiệm vụ quân sự của mình. Kể thêm nữa là những mối tình không ngày mai, trên đường phiêu lãng của người thủy thủ tài hoa... Như vậy , khi ông bày tỏ nỗi nhớ nhung, tôi có cảm tưởng là cái nhớ của ông không gắn với hình ảnh rõ ràng của một giai nhân nào hết.
 
 Thí dụ trong bài "Huế Trong Tôi", ông tâm sự:
 
  Em ở đó nhà em từ thuở nhỏ
 
 ........................................................
 
 Anh ở trọ bên này vườn lặng lẽ
Thường theo em hai buổi học đến trường
 
 Trong bài "Biệt Ly", ông nói đến một người đẹp khác:
 
Vừa mới gặp em anh đã thương
Nhưng em hờ hững chẳng tơ vương
.........................................................
 
Rồi bỗng một ngày em hiểu anh
Tình ta vằng vặc ánh trăng rằm
Là ngày anh xuống con thuyền nhỏ
Nợ tang bồng theo cuộc chiến chinh...
 
Gần đây nhất là người đẹp ông gặp lại ở Paris rồi chia tay:
 
Người ơi người! đến chi rồi đi vội
Cho buồn thương vây kín cả trời Tây
Cho cô đơn ôm chặt tháng năm gầy
Con phố cũ... mai đây còn đâu nữa!
 
( Tôn Thất Phú Sĩ, Chia Tay Người )
 
Sự gắn bó đậm nét, như nhất, khi đọc thơ Phú Sĩ, có chăng, chỉ là biển cả:
 
Bóng chiều lãng đãng hoàng hôn
Thuyền im sóng lặn nhớ vùng biển xưa
 
( Tôn Thất Phú Sĩ, Phượng Tím )
 
Tàu đi xa nhẫn tâm không quay lại
Nhớ biển nhớ thuyền nước mắt rưng rưng
 
( Tôn Thất Phú Sĩ, Chuyến Tàu Cuối )
 
  Qua nhiều biến động, khi bước vào mùa thu của cuộc đời, nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ cảm thấy quạnh hiu, để rồi mộng mơ và ngóng đợi...
 
Hồn ta hướng lạc phương mờ
Đêm đêm nghe nặng mộng hờ gối tay
 
( Tôn Thất Phú Sĩ, Trong Đôi Mắt Em )
 
Ước gì ta biến thành cơn gió
Thổi cả rừng mơ để được yêu
 
( Tôn Thất Phú Sĩ, Trở Mùa )
 
 Ngóng đợi gi? Phải chăng là sự tao ngộ với một giai nhân hư ảo, như trong tập truyện Liêu Trai của Bồ Tùng Linh?
 
Chiếc bóng đó là trăng hay là gió
Là muôn sao lộng lẫy giữa trời cao
Là tình yêu ôm ấp tự thuở nào
Đến bây giờ vẫn vấn vương trong nắng
 
Và hôm nay ...
Và hôm nay bỗng dưng ta gặp lại

*
( Tôn Thất Phú Sĩ, Chiếc Bóng )
 
Ta ao ước đưa em vào phiêu lãng
Buồm giương cao gọi gió giục thuyền xa
Thổi mát dịu tình xanh màu nước biển
Cùng dìu nhau đến bờ bến an bình
 ........................................................
 
Giấc mơ qua ...trôi dài theo sóng biếc
Người không về ta tỉnh mộng Liêu Trai
 
( Tôn Thất Phú Sĩ, Tỉnh Mộng )
 
 Tỉnh mộng. Nhà thơ nhận thấy mình đã nhớ và đợi ...bâng quơ! Cái tâm trạng nhớ nhung bâng quơ này đã được diễn tả rất tài tình trong hai câu thơ:
 
Trong tôi như có gì đang mất
Một thoáng mơ hồ không biết tên
 
( Tôn Thất Phú Sĩ, Giọt Mưa Ngà )
 
 Tỉnh mộng. Một lần, bên bờ sông Seine, giữa mênh mông của đất trời và sóng nước, ông chợt nhận ra:
 
Anh chợt nhận ra
Em chỉ là cánh gió
Thổi vào hồn anh một thoáng mong manh!
 
( Tôn Thất Phú Sĩ, Một Thoáng Mong Manh )
 
************
 Đến đây tôi đã tìm được giải đáp cho mấy điểm khiến tôi thắc mắc. Đặc biệt cuộc tìm hiểu này đã mang lại cho tôi một cơ hội thú vị để thưởng thức cái hay, cái đẹp của thơ tự do, một loại thơ từ lâu tôi không để ý vì thành kiến./.


Paris tháng 4 năm 2010
Khuê Trai - Vũ Quốc Thúc 
 

TÔN THẤT PHÚ SĨ - ÂM NHẠC VÀ ĐỜI SỐNG

Publié le 29/01/2015 à 05:37 par tonthatphusi Tags : blog background image centerblog

TÔN THẤT PHÚ SĨ - BONJOUR !

Publié le 29/01/2015 à 05:18 par tonthatphusi Tags : bonjour blog image centerblog gif background article photos png news google
TÔN THẤT PHÚ SĨ  - BONJOUR !
 

Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa

Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn

*

-"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp.Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.
Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:
"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu."

*

TÔN THẤT PHÚ SĨ - BON WEEK-END

*

ĐÔ ĐỐC TRẦN VĂN CHƠN

CÓ NHỮNG SỢI TÌNH - Kim Thành

KIM-THÀNH - NGƯỜI SƯƠNG PHỤ LÀM THƠ
Kính tặng Phó Đề Đốc HỒ VĂN KỲ THOẠI

SUY TƯ VỀ NHAN ĐỀ MỘT TẬP THƠ - G.S. VŨ QUỐC THÚC

KIM-THÀNH * NHỚ ANH EM LÀM THƠ

TRƯỜNG SĨ QUAN HẢI QUÂN VÀ TÔI - TRẦN VĂN SƠN
KHOÁ 7 HẢI QUÂN VNCH - ĐỆ NHẤT THIÊN XỨNG

K.7 SVSQ - HQ- VNCH - LỜI DI CHÚC CỦA VUA TRẦN NHÂN TÔN

30-04- 1975 - BTL HQ VÙNG 4 ZH - DI TẢN VỚI 3000 ĐỒNG BÀO-NGUYỄN VĂN THIỆN

TƯỞNG NIỆM NHÀ THƠ HỮU PHƯƠNG - PHÓ ĐỀ ĐỐC NGUYỄN HỮU CHÍ

Hải Quân Trung Tá - NGƯỜI NHÁI TRỊNH HOÀ HIỆP
HỒI KÝ HOA THỊNH ĐỐN - MÙA HOA ANH ĐÀO- NGUYỄN VĂN QUANG

LE PONT MIRABEAU - Guillaume Apollinaire - tôn thất phú sĩ
BỜ SÔNG LÁ MỤC - Phan Lạc Tiếp

HÌNH ẢNH VIỆT NAM XƯA THẬT LÀ XƯA

KHU DÂN SINH- MỘT THUỞ SAIGON

SBTN Nam Cali :PHỎNG VẤN CỰU HT HOÀNG ĐÌNH BÁU

VỀ THĂM LẠI CALI - tôn thất phú sĩ

SỰ CÔ ĐƠN VÀ KHÁT VỌNG ĐỢI CHỜ TRONG THI PHẨM BẾN ĐỢI - LÊ MIÊN KHƯƠNG

ĐỌC BẾN ĐỢI 2 CỦA KIM THÀNH - TÔN THẤT PHÚ SĨ
TRẦN BÌNH NAM

TRI THỨC LUẬN VÀ TÂM THỨC THIỆN TRONG THƠ NHẠC KIM THÀNH
NINH HOÀ.COM - GIỚI THIỆU THƠ KIM THÀNH
TRANG NHÀ VŨ THẤT

TRANG NHÀ HẢI QUÂN VNCH TẠI*ĐỨC

TRANG NHÀ TRẦN BÌNH NAM
NÉT LÃNG MẠN TRONG THƠ CỦA TÔN THẤT PHÚ SĨ

VÀI CÃM NGHĨ VỀ THƠ CỦA TÔN THẤT PHÚ SĨ

HQ THIẾU TÁ VƯƠNG THẾ TUẤN VÀ CÁC HẠM TRƯỞNG " CHUYẾN HẢI HÀNH CUỐI CÙNG

A DREAM WITHIN A DREAM - Edgar ALLAN POE - tôn thất phú sĩ

TRẦN QUỐC BẢO : ĐỌC LẠI BÀI “BẠCH YẾN – TIẾNG HÁT CUỒNG PHONG” CỦA HOÀNG ANH TUẤN ĐĂNG TRÊN BÁO ĐIỆN ẢNH NĂM 1962

PHÚ SĨ OVER BLOG

CHUYẾN RA KHƠI ĐẦU TIÊN - TÔN THẤT PHÚ SĨ

NGƯỜI LÍNH BIỂN - UYÊN THÚY LÂM

BẾN ĐỢI 1 VÀ 2 - BIBLIOTHÈQUE UNIVERSITÉ SORBONNE

THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ * 1

TRANG THƠ KIM THÀNH 1

TRANG THƠ KIM THÀNH 2
THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ * 2

THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ * 3
THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ * 4

THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ * 5

THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ *6

101 BÀI THƠ PHÁP - ANH * TTPS PHỎNG DỊCH

SV-SQHQ-K15

Huấn Luyện & Tốt Nghiệp-1964-1966

TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU CD THƠ NHẠC CỦA

KIM THÀNH * TÔN THẤT PHÚ SĨ

*

1-CD RỒI CŨNG QUA ĐI
2-CD MẤT ANH EM LÀM THƠ
3-CD BỀNH BỒNG BIỂN KHƠI
4-CD MỘT CÕI CHẬP CHÙNG
5-CD YÊU THƯƠNG
6-CD CHƠI VƠI
7-CD NGÀN NĂM MÂY BAY
8-CD LẶNH LẼ TÔI TÌM TÔI
9-CD VẪN CÒN ĐÂY MỘT THUỞ
10-CD CHỈ BIẾT YÊU THƯƠNG

Vá lại mầu cờ Tổ Quốc

*

THƯƠNG EM VÁ LẠI NGỌN CỜ
*
Em ngồi vá lại ngọn cờ
Mơ ngày phục quốc bên bờ đại dương
Ta ngồi thương nhớ quê hương
Thương con đê phụ nhớ hàng dừa xanh
*
Lá cờ vàng em ngồi vá đó
Vẫn trong ta rực rỡ vô cùng
Là biểu tượng tin yêu muôn thuở
Một Việt Nam đứng giữa năm châu
*Là máu của những anh hùng
Lý Lê Trần Nguyễn , Quang Trung rạng ngời
Là gương sáng Bà Trưng Bà Triệu
Diệt ngoại bang dành lấy cơ đồ
*
Việt Nam !
Tổ quốc ta em ơi !
Từ ngàn xưa ngạo nghễ
Có dễ gì để núi lỡ thịt tan
Có dễ gì cúi đầu câm nín
Cho bạo quyền dẫm nát giang san
*
Em ngồi vá lại ngọn cờ
Tay em sợi chỉ biển tình bao la
Ta ngồi ôm giấc mơ xa
Thương quê cha đã cánh diều đứt dây
*Thương núi Ngũ Hành
Thương đồi Vọng Cảnh
Thương cây phượng hồng bỗng dưng cô quạnh
Bên dòng sông xưa tắm gội tuổi thơ em...
*
Việt Nam !
Tổ Quốc ta em ơi !
Tiếng gọi êm đềm
Thao thức từng đêm
Có trăng hạ huyền , bài ca dao Mẹ
Có Cha hè về kể chuyện thần tiên
Có nụ cười hiền đuổi đi bom đạn
Giọng nói ân cần mát ngọn mồng tơi....

Bây giờ nơi ấy tơi bời !
Hoa nhân ái đã rụng rơi mấy mùa...
*
Kim Thành
Một ngày Tháng Tư 2011

TO THE RIVER - Edgar Allan Poe - tôn thất phú sĩ

Publié le 28/01/2015 à 20:43 par tonthatphusi Tags : art blog centerblog image

 

Edgar Poe (1909-1849) sinh ở Boston, là con thứ hai của David Poe và Elizabeth Arnold Hopkins Poe. Bố mẹ mất sớm, Poe được John Allan nhận làm con nuôi. Từ đó Allan trở thành họ thứ hai của Edgar. Những năm 1815–1820 Edgar Poe cùng gia đình Allan đi sang Anh, Poe học ở trường Richmond. Năm 1826 vào học Đại học Virginia nhưng chỉ học được một học kỳ thì nghĩ học . Năm 1827 Poe trở về Boston in cuốn Tamerlane and Other Poems, cũng trong năm này Poe gia nhập quân đội và 2 năm sau đấy, khi mẹ nuôi mất, Poe xin ra quân. Năm 1829 in tập sách thứ hai: Al Aaraaf, Tamerlane, and Minor Poems. Năm 1830 vào học trường quân đội nhưng cũng chỉ được một năm lại bỏ học. Trở về New York, Poe in cuốn Poems. Năm 1833 in truyện MS Found in a Bottle được tặng giải thưởng của một tạp chí ở Baltimore, Maryland. Năm 1836 Poe cưới vợ, là một cô gái mới 14 tuổi. Những năm từ 1836-1842 Poe làm biên tập của nhiều tạp chí. Năm 1845 in bài thơ Raven (Con quạ), là tác phẩm nổi tiếng nhất của Poe. Năm 1847, vợ chết, Poe bị ốm nặng, cả năm hầu như không sáng tác nhưng 2 năm sau đó ông viết được nhiều bài thơ nổi tiếng như: The Bells, For Annie, Annabel Lee, Eldorado... Năm 1849 ông sống với một người phụ nữ mà ngày xưa hai người từng yêu nhau. Thời gian sau đấy không có tư liệu về tiểu sử của Poe. Ngày 3 tháng 10 năm 1849 người ta tìm thấy ông trong một quán rượu ở Baltimore. Ông mất ngày 7 tháng 10 năm năm 1849.

tôn thất phú sĩ - sưu tầm từ bản văn Anh Ngữ

TO THE RIVER

*
Fair river! in thy bright clear flow
Of crystal wandering water,
Thou art an emblem of the glow
Of Beauty — the unhidden heart —
The playful mazines of art
In old Alberto’s daughter.

*
But when within thy wave she looks,
Which glistens, then, and trembles,
Why then the prettiest of brooks
Her worshipper resembles;
*
For in his heart, as in thy stream,
Her image deeply lies —
His heart which trembles at the beam
Of her soul-searching eyes.
*

Edgar Allan Poe

 

DÒNG SÔNG

 *

Giòng sông , trong sáng mênh mông !
Lang thang con nước qua trời trong veo
Sông ơi ! sông đẹp mỹ miều
Long lanh sóng gió dạt dào vô biên
Lòng ta là một con thuyền
Nằm im bến vắng nhớ miền biển xưa
*
Vấn vương tiếng sóng xa khơi
Suối nguồn róc rách , nối lời vu vơ
Suối ơi ! giòng suối chơi vơi
Cho tôi ngơ ngẩn vì tôi yêu nàng
*

Trái tim tôi rất nhẹ nhàng
Đón người em nhỏ ngỡ ngàng sang chơi
Lòng tôi tha thiết gọi mời
Hồn tôi gối mộng bên trời tương tư
*

tôn thất phú sĩ
phỏng dịch

 

Trân trọng giới thiệu : " Tập 102 bài thơ PHÁP-ANH - Tôn Thất Phú Sĩ_phỏng dịch " sắp xuất bản

 

102 BÀI THƠ PHÁP - ANH * TTPS PHỎNG DỊCH

 

EM ĐÃ TRỞ LẠI PARIS - Kim Thành

Publié le 27/01/2015 à 11:54 par tonthatphusi Tags : centerblog image

 

TÔN THẤT PHÚ SĨ - NHẠC MÙA CHINH CHIẾN

 

EM ĐÃ TRỞ LẠI PARIS - Kim Thành

 

TÔN THẤT PHÚ SĨ - NHẠC MÙA CHINH CHIẾN EM ĐÃ TRỞ LẠI PARIS
*
Anh, em đã trở lại Paris
Sau hai mươi sáu năm dài
Cùng anh
Vượt trùng dương tìm đất hứa
Hai mươi sáu năm em già hơn trước
Một mình, trống vắng
Tóc hai màu khó che giấu nét phôi phai
*
Em trở lại đây
Không có đợi chờ
Lòng buồn như bia mộ
Nhớ bước chân anh trên từng viên gạch cổ
In dấu mỗi lần qua
Nhớ nụ cười anh ôm kín nỗi lo xa
Những tháng ngày chúng mình lênh đênh nơi xứ lạ
*
Anh, em đã trở lại Paris
Đi giữa mưa gầy Tháng Bảy
Kỷ niệm chập chùng trang ký ức
Mắt cay cay cơn huyễn mộng trùng phùng
*
Vẫn còn đấy
Dòng sông Seine mấy mùa chung bóng
Con phố xưa đứng ngóng với đợi chờ
*
Vẫn còn đấy
Khải Hoàn Môn hoàng hôn hay nắng rỡ
Anh xa rồi một thuở trầm hương
Em vết thương nương hơi thở theo cùng
Tim lỗi nhịp, hồn bay tìm cánh gió
*
Anh, em đã trở lại Paris
Thiếu mất người tình si
Anh bây giờ đâu đó
Đầu ngõ hay chân mây
Có nhìn em trần thế
Trơ trẽn phấn môi hồng
Có hay không trong em đêm nguyệt tận
Và cô đơn
Và lạnh lẽo
Bởi đâu còn ấm áp một bàn tay !
*
Kim Thành
July 2004

 


 

 

*

Con đường Beautreillis -Paris khu cổ kính xưa

TÔN THẤT PHÚ SĨ

THÊM MỘT LẦN
*
Thêm một lần tôi trở lại Paris
Đếm bước chân mình trên từng phiến đá
Vẫn tháng bảy mưa ngâu
Vẫn nhớ thương vời vợi…
*
Mãi mãi nơi sân ga
Những chuyến tàu đến và đi
Gặp gỡ chia ly
Vội vàng
Tức tưởi
Tay vẫy tay chào chới với níu đời nhau…
*
Con đường Beautreillis nhập nhòa dư ảnh
Buồn quá đi thôi!
Cánh cửa hờ bây giờ khép kín
Hoang vắng lạ lùng
Vô cùng tội nghiệp!
*
Bờ sông Seine còn đó cuộc tình
Với bình minh sương mỏng
Chiều xuống rong rêu
Và hình như quanh tôi
Thiếu vắng một nụ cười trong dòng người thác lũ
Bến cũng hờn tôi đợi gì đây?!
*
Tôi đợi gì đây?
Hỡi thời gian đầy vơi khắc khoải!
Tôi đợi gì đây?
Hỡi mây phủ giăng tơ!
*
Ngậm ngùi tiếc nuối
Hụt hẫng mang mang
Như những con tàu đến rồi đi
Thêm một lần tôi từ giã Paris
Bỏ lại sau lưng những cuồng si khờ dại
Giọt nước mắt dài lau mãi không khô
Kỷ niệm trùng trùng
Chìm sâu ký ức…
*
Buổi chiều cuối nắng chùng xuống phố
Chia tay nhau em cố lạc đường về
Hạ trắng đong đầy trong mắt ướt
Tôi gượng cười nhốt chặt ánh tà dương
*
Đêm chờ sáng dật dờ rồi cũng hết
Paris vương vương…
Paris đang rẫy chết
Cánh cửa phi trường vô tình độ lượng
Thêm một lần
Trả tôi về với một cõi riêng tôi…
*
Kim Thành
July 2013

TÔN THẤT PHÚ SĨ

4 lý do Trung Quốc di rời giàn khoan Hải Dương 981 sớm hơn dự kiến - Ảnh 1

*

NGHĨ CŨNG LẠ
*
Cái buồn chen với cái đau
Biể̉n Đông dậy sóng nát nhàu ruột gan
Nhiều khi tôi cũng muốn quên
Mình là người Việt dẫu không ngục tù
 
Dân ta có lắm kẻ mù
Nên quân thù mới nghênh ngang tung hoành
Nghĩ cũng lạ, nghĩ chẳng ra
Trời sinh có mắt sao không chịu nhìn!
 
Hỡi Thượng Đế!
Ngài ở nơi đâu?!
Xin đập nát những dã tâm cuồng bạo
Cho nhân gian thôi hết khổ đau
Không có máu đổ
Không có thịt rơi
Không có những toan tính lọc lừa hèn hạ
Gây đau thương tang tóc đọa đày
 
Hỡi Thượng Đế!
Ngài ở nơi đâu?!
Xin cho cõi tạm đất trời nở hoa
Không có ngục tù
Không có điêu ngoa
Không có những tiếng thét rợn người
Hãi hùng bóng tối yêu ma…
 
Việt Nam, tổ quốc tôi
Mấy mươi năm máu chảy thành dòng
Gông cùm xiềng xích
Lẽ phải thiệt thua
Chân Thiện Mỹ chết dần theo ảo vọng
Trên bờ, dưới nước
Tiếng khóc như mưa
Núi không ngăn được mây máu trùng trùng
 
Hỡi anh, hỡi chị
Hỡi những nhân duyên còn nhớ cội nguồn
Xin mở mắt ra
Mở cho thật lớn
Để thấy phù du đang dối gạt trái tim mình
 
Lạy trời đất nước hồi sinh
Biển Đông lặn sóng cờ vàng tung bay…
 
Kim Thành
June 2014

TÔN THẤT PHÚ SĨ - BON MARDI

Doãn Quốc Sỹ : NHỮNG BÀI THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ

Publié le 26/01/2015 à 09:54 par tonthatphusi Tags : blog love image centerblog you
Doãn Quốc Sỹ : NHỮNG BÀI THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ
TÔN THẤT PHÚ SĨ - NGƯỜI EM NGÀY CŨ
*
ttps - Trại tỵ nạn HONGKONG 1981

NGƯỜI EM NGÀY CŨ
*

Con đường nho nhỏ nghiêng nghiêng 

Lên con dốc đứng xuống miền hoang sơ
Tôi buồn tôi viết bài thơ
Bóng chiều óng ánh nắng tơ hanh vàng *
Tình tôi nay đã muộn màng
Bài thơ tôi lại dỡ dang mất rồi !
Bài thơ chừ phải thả trôi
Theo dòng sông cũ một thời cưu mang
Mối tình ngày đó lang thang
Tôi con bướm lạ nhởn nhơ lưng đồi
Em nụ hoa dại hồng môi
Mật hoa ngọt lịm hồn tôi bướm vàng
Bất ngờ tôi lại gặp nàng
Cánh hoa ngày đó thời gian phai màu
Ngẩn ngơ bướm chạnh lòng đau
Phải chi đừng gặp tôi đâu có buồn *
*

tôn thất phú sĩ
Paris 24/09/2004

DOÃN QUỐC SỸ 

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 3 tháng 2 năm Quý Hợi, tức ngày 17 tháng 2 năm 1923 dương lịch. Ông là con trưởng trong gia đình. Cha ông là Doãn Hưu, một nhà nho và người em trai của ông là Doãn Nho nhạc sĩ của Miền Bắc . Năm 1946, ông lập gia đình với con gái nhà thơ trào phúng Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) là bà Hồ Thị Thảo. Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào Nam.

Doãn Quốc Sỹ là nhà văn và đồng thời là nhà giáo. Ông dạy học tại các trường trung học công lập như Nguyễn Khuyến (Nam Định, 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội, 1952-1953), Trần Lục (Sài Gòn, 1953-1960). Làm hiệu trưởng trường Trung học Công lập Hà Tiên (1960-1961), giáo sư trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn (1961-1962), giáo sư trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn, Đại học Văn Khoa Sài Gòn năm 1962 đến giữa thập niên 1960. Ông du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và rồi trở về nước tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975. 

*

*

Doãn Quốc Sỹ : NHỮNG BÀI THƠ TÔN THẤT PHÚ SĨ 

*

Một hôm nọ nhà thơ Việt Hải có gửi cho tôi dăm bài thơ tiêu biểu cho nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ, mà tôi xin đề tắt là TTPS. Tôi đọc thơ TTPS hôm nay, tôi chạnh lòng nhớ về nhiều năm về trước đây khi anh em bạn bè chúng tôi sinh hoạt thơ văn tại Hà Nội trước 54 và tại Sài Gòn trước 75.

"Biển" là tên của bài thơ mà nhà thơ của chân trời Paris thơ mộng đã sáng tác để kể về giấc mộng hải hồ của người Sĩ quan Hải quân VNCH, khi anh vượt muôn trùng, băng đại dương. Dưới đáy sâu của lòng đại dương anh nhắn nhủ ước mơ của mình: 

*

..."Biển ơi ! cho ta giòng máu
Giang hồ từ thuỡ me sinh
Ta đi biển xanh màu nước
Ta về biển trắng bạc tình
Trùng dương cho ta gởi lại
Người tình yêu dấu ta thương" ... 

ttps 

*

Sự bóng bẩy của thơ TTPS làm tôi liên tưởng đến thơ của Vũ Đình Liên trong bài "Chia phôi": 

*

"Ở chốn đường khơi ta tưởng đến em
Xa xôi nên lại nhớ nhung thêm
Than ôi phiêu dạt đời mưa gió
Mà chút tình xưa vẫn chẳng quên" 

*

Thơ của Thế Lữ cũng linh động không kém qua những vần thơ xao xuyến: 

*

"Làn gió qua hiên vi vu thổi
Hồn xuân nhuốm thảm chí phiêu lưu
Than ôi ! Mê mãi theo mây nước
Đâu phải lòng ta chẳng biết yêu"

*

Nhà thơ R. W. Raymond đặt bài thơ "Bài ca" (Song), tôi phỏng dịch lời Việt như sau, chú thích (1):

*

"Anh sẽ yêu em vương tình trong gió
Như tình vũ bão, như bền duyên
Để xóa tan dâu bể án đường
Để không màng lý lẽ đúng sai ?
Dẫu đam mê cơn gió tình trường
Chẳng bao giờ vĩnh viễn yêu đương.

*

Nhà thơ TTPS của vùng trời biển mộng cho những sóng gió giữa biển cả trùng dương hay tình cô gái nhỏ dỗi hờn, sự đam mê hải hồ gắng liền với sự thủy chung của người em nhỏ ở hậu phương. Phải chăng tình yêu đông tây của 2 nhà thơ Raymond và TTPS có những điểm tương đồng. TTPS với bài

*

"Trăm Năm Anh Theo Biển":

*

"Trăm năm anh theo biển
Trăm năm em theo anh
Biển dỗi hờn dậy sóng
Em dỗi hờn lặng thinh 

*

Anh yêu ngàn khơi rộng
Có tấm lòng bao dung
Người yêu anh bé nhỏ
Thương mến màu thuỷ chung"

... ttps

*

Nhà thơ Quang Dũng trong bài "Trắc Ẩn" cho thấy sự nhớ nhung giữa hai người. Những câu thơ nặng trĩu niềm nhung nhớ như:

*

"Chiều ấy em về thương nhớ ai ?
Tôi chắc đường đi đã rất dài
Tim tím chiều hôm lên bóng núi
Dọc đường mờ những cánh hoa phai." 

*

Trong nỗi niềm như nhà thơ Quang Dũng, TTPS ẩn chứa tâm sự trong bài thơ "Anh Ở Bên Này Tuy Rất Xa", nhà thơ TTPS diễn tả ý thơ khi hướng về bên kia bờ đại dương trong năm tháng dài mà lòng cô liêu: 

*

"Anh ở bên này tuy rất xa
Gởi về em gái rất thật thà
Lời thương yêu đó... không dối trá
Từ trái tim hồng anh nói ra 

*

Anh ở bên này tuy rất xa
Bắc thang lên hỏi ánh trăng già
Trăng bao nhiêu tuổi đời cô tịch
Trăng vẫn là trăng riêng của ta."

*

ttps

*

Khi lòng trao hẹn ước vĩnh viẽn, nhà thơ Tế Hanh phác họa bài thơ "Tình Yêu và Vĩnh Viễn" mà lời như sau:

*

"Anh gặp em trong thời biến chuyển
Vừa ban mai sao đã ban chiều ?
Anh biết dù tình yêu không vĩnh viễn
Vẫn đi tìm vĩnh viễn của tình yêu."

*

Kế tiếp là bài thơ "Tình Không Biên Giới Không Thời Gian", TTPS nói đến sự kiện đi tìm một tình yêu thiên thu, tựa như nhà thơ Tế Hanh đi tìm một tình yêu vĩnh viễn trong thơ của ông: 

*

"Từ thuở xa xưa đã biết là:
Tình yêu không có tuổi phôi pha
Vừa 16 tình đầu thổn thức
Đến 60 tim vẫn thiết tha

*

Ban sơ 16 xinh như mộng
Hai đứa vu vơ bắt bướm hồng
60 rồi trái tim rướm máu
Tình buồn rơi trên lá sầu đông

*

Dù em có hận hay oán trách
Tình xưa vẫn không chết đâu em
Có gì xa vắng từ sâu thẳm
Thiên thu muôn kiếp vẫn đi tìm."

 ttps 

*

Mùa xuân về trong thơ Hồ Dzếnh có tình cho nhau trong chờ đợi, mong nhớ suốt thiên thu: 

*

"Anh chờ đợi em suốt bấy lâu
Nhủ thầm: Xuân thắm chả phai đâu
Một khi xuân thắm là mong nhớ
Và cả thiên thu: vĩnh viễn sầu." 

*

Trong bài "Mùa Xuân Năm Ngoái " TTPS gửi tặng người tình của anh hoa mùa xuân từ năm rồi đến năm nay trong chờ đợi của mộng tình bỏ neo ngóng trông, ý không xa thơ của thi sĩ Hồ Dzếnh là bao: 

*

"Với tay hái nụ hoa trên cành
Gởi tặng về anh một mùa xuân
Mùa xuân năm ngoái trong như ngọc
Mùa xuân này sao thấy bâng khuâng

*
Nghe như chim hót thoáng qua đèo
Một mănh trời xuân rơi rớt theo
Giọt sương c̣òn đọng trên môi mặn
Mà ngỡ tình anh đang bỏ neo !"

*

...ttps

*

Thi sĩ Richard M. Milner của Vương quốc Anh trong bài thơ 

"Only We", mà tôi phỏng tác ra bài Việt ngữ là "Chỉ Hai Chúng Mình” (2): 

*

"Môi thương ánh mắt chúng mình
Yêu tình sống chết bóng hình có nhau
Em, anh dẫu có thế nào
Đôi ta duyên nợ tình trao hai người."

*

Như ý tưởng của Milner, nhà thơ TTPS ngợi ca tình yêu với những mặn nồng có nhau. Bài "Khi Em Nằm Ngủ" là một giấc ngủ như mơ, nét hồn nhiên khiến tác giả quên đi bao ưu phiền, như thế những ý nghĩ của những vần thơ đông tây có những giá trị chung trong cuộc sống: 

*

"Một ít buồn trong giấc ngủ say
Bỗng dưng thoáng thấy mắt em cười
Như có điều chi em muốn nói
Thẹn thùng đôi má ửng hồng tươi 

*

Có thể em vừa nghĩ đến ai
Anh đi rón rén đến bên giường
Sợ động hồn em lay tỉnh mộng
Hôn nhẹ bờ môi một chút thương  

*

Ngủ đi, em ngủ rất hồn nhiên
Cho anh xin hết những ưu phiền
Hương đêm thoang thoảng mùi hoa dại
Vì ai em phải cứ nằm mơ." 

... ttps

*

Thơ của Tôn Thật Phú Sĩ mang nét dịu dàng, lời thơ trung thực, mượt mà. Nếu phải đi tìm sự tương đồng về giá trị đông tây, thơ TTPS dồi dào không kém. Và nếu phải đọc những vần thơ tiền chiến và thơ của TTPS thì thơ anh có những nồng nàn chẳng kém người đi trước.

* 

Tôi thành thực chia vui cùng anh cho hình thành tuyển tập :

*

Những bài thơ Tôn Thất Phú Sĩ.

Doãn Quốc Sỹ
Houston, 24/05/05. 

*

Chú thích:
*

(1): bài thơ “Song "

Shall l love you like the wind, love,
That is fierce and strong,
That sweeps all the barriers from its path
And reeks not right or wrong?
The passion of the wind, love,
Can never last for long.

R.W. Raymond 

(2): bài thơ “Only We” 

Lip on lip, and eye to eye
Love to love, we live, we die
No more thou, and no more I,
We, and only we!

* 

Richard M. Milner... Đọc thơ Tôn Thất Phú Sĩ (TTPS), tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.  Vừa đọc lên bài "Mẹ Ơi Biển Gọi" tôi đã thấy hồn mình cùng rung cảm với thi nhân ...
*

Con dã tràng xe từng viên cát nhỏ
 Giương cái càng che khuất nửa vầng trăng
 Ánh trăng vàng rơi tràn trên biển vắng
 Ngọt như dòng sữa mẹ đã nuôi con ...

(TTPS, Mẹ Ơi Biển Gọi)
 
Nhà thơ TTPS, một SQHQ/QL. VNCH, đa tài, đã lãng mạn trong thi ca qua bài thơ "Paris ... Anh Tìm Em" mà anh đã viết để thương kính tặng Cô Kim Thành và Thầy Trần Phước Hải – cảm xúc khi chợt đọc bài thơ "Em Đã Trở Lại Paris" của cô Kim Thành.
*

Anh trở lại đây
 Chờ em trên bia đá
 Tấm bia mòn nơi cổ mộ trăm năm
 Hình như có một khoảng cách
 Giữa chúng mình
 Một khoảng trời xanh ươm mây trắng
 Lạnh lùng, hoang vắng
 Nhưng anh không nghĩ
 Tình yêu mình hóa đá đâu em ...
 
Anh tìm em giữa phố Paris
 Chuyến Metro cuối về đến Gare Montparnasse
 Paris đêm huyền diệu
 Ánh đèn màu mờ ảo lung linh
 Anh vẫn đi tìm em
 Đi tìm hoài như một kẻ vô tâm
*

 (TTPS, Paris ... Anh Tìm Em)
*

TẠ XUÂN THẠC 

Thượng Đế sinh ra người thi sĩ để họ sống vì yêu ... Từ nhịp đập của con tim, người thi sĩ thao thức cho những nhớ nhung, những u hoài ... Nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ (TTPS) tình tứ chuyên chở những lãng mạn yêu đương ... nỗi nhớ ngập hồn tương tư và thoáng thơm hương phấn cho tình thăng hoa. 
*

Em ngồi xỏa tóc dáng Liêu Trai
 Bờ vai hong nắng nghiêng nghiêng gầy
 Bức tranh lụa thoáng thơm hương phấn
 Bướm ngẩn ngơ vờn rũ cánh bay
 
Cứ để cho hồn rung theo gió
 Cho tình vời vợi đến trong mơ
 Đừng ngăn con suối vào sông rộng
 Mà nghẽn dòng xuôi nước vỡ bờ ...

(TTPS, Bâng Quơ)

 *

VIỆT HẢI


  
... Tuổi đời, tình yêu, biển cả trùng khơi là những mộng ước đợi chờ làm rung động con tim trong thơ Tôn Thất Phú Sĩ (TTPS)
 
Thuyền tôi từ độ ra khơi
 Biển xanh sông rộng chơi vơi giữa dòng
 Em tôi má vẫn còn hồng
 Đời tôi vẫn cứ bềnh bồng biển khơi ...

(TTPS, Bềnh Bồng Biển Khơi)
 
... TTPS đã ngoài lục tuần nhưng thơ anh còn rất trẻ với những hoài niệm tuổi đôi mươi, trong sáng và trữ tình
 
Anh đi qua ngõ ấy
 Tìm lối hẹn ngày xưa
 Giờ xa vắng người mơ
 Con đường buồn biết mấy ...
*

 (TTPS, Mùa Thu Vội Đến )
 
Em ngồi yên để ta mơ
 Xa nhau mệt khắc ta chờ ngàn thu
 Thuyền đi ôm mộng viễn du
 Đời ta mãi mãi ngục tù trong em ...
*

 (TTPS, Người Thương)
 *
NGUYỄN QUÝ ĐẠI 
  
... Vã chăng thơ là tiếng nói của con tim, phát xuất từ những đam mê,  xúc động trong lòng người, cho nên thơ đúng nghĩa đối với tôi phải nằm trong lãnh vực tình cảm.  Không còn dọc ngang chiến đấu gian nguy với kẻ thù, người chiến sĩ Hải Quân bây giờ chỉ còn thơ thẩn bên dòng sông Seine để luyến tiếc dĩ vãng, để nhớ về những kỷ niệm xưa, hình bóng cũ, để "ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây."
 
Anh tự hỏi
 Bây giờ ... em đang ở nơi nào
 Dù em đến một phương trời vô tận
 Anh vẫn bềnh bồng theo bước chân em
 Như nắng, như mưa
 Qua đủ bốn mùa
 Anh vẫn nhớ
 Và muôn vàng nhung nhớ
 Chiếc bóng thẩn thờ
 Bờ cát nghiêng nghiêng
 Để biển và cát ru lòng anh ngóng đợi
 Mãi mãi bên em
 Giấc miên trường sóng vỗ ...
 
Chiều nay anh ngồi đây ngóng đợi
 Bên dòng sông Seine xuôi nhẹ chiếc du thuyền ...
 
Anh chợt nhận ra
 Em chỉ là cánh gió
 Thổi vào hồn anh
 Một thoáng mong manh
*

 (TTPS, Một Thoáng Mong Manh)
 *
NGUYỄN THANH LIÊM
  
... Hồn thiên sông núi, tình yêu quê hương luôn luôn là con suối nguồn mượt mà cho cảm hứng tạo nên nhứng vần thơ Tôn Thất Phú Sĩ (TTPS).  Đọc thơ TTPS ta thấy rất nhiều những ray rứt xa cách đôi bờ bên cạnh một tình mơ lãng mạn đợi chờ.
 
Người ơi xin chớ hững hờ
 Hãy nương theo gió đôi bờ có nhau ...

(TTPS, Xin Chớ Hững Hờ)
 
Biết đến bao giờ ... ta hỏi ta
 Bên kia ngọn núi tít mù xa
 Phù sa mặn ngọt bờ sông Cữu
 Ta gởi về em nỗi nhớ nhà

(TTPS, Từ Sông Seine Đến Sông Dương Tử)
 
Rung cảm của TTPS đã đi từ những ước mơ rất trẻ, rất thơ đến những trăn trở của một triết gia trước viễn ảnh của cuộc đời.
 
Đời tôi đó đầy tuyết rơi nắng cháy
 Chợt vui mừng bắt gặp những rừng hoang
 Con thú nhỏ lang thang bên bờ suối
 Từng bước thầm góp nhặt những vần thơ ...
 
Một ngọn nến chập chờn tầm gió thổi
 Tuổi sáu mươi đời chưa hết lung linh
 Thôi xin được bình yên làn sóng nhỏ
 Một chiều thu thuyền lặng lẽ ra khơi

(TTPS, Sinh Nhật Lục Tuần)
 *
NGUYỄN VĂN QUÍ

TÔN THẤT PHÚ SĨ - STATISTIQUES

Publié le 24/01/2015 à 22:34 par tonthatphusi Tags : centerblog image
TÔN THẤT PHÚ SĨ - STATISTIQUES

 

Đường Nguyễn Huệ và toà Đô Chính năm 1960TÔN THẤT PHÚ SĨ - NHẠC MÙA CHINH CHIẾN

TÔN THẤT PHÚ SĨ
THÂN CHÚC QUÝ BẠN MỘT NGÀY THẬT TUYỆT VỜI

TÔN THẤT PHÚ SĨ - NHẠC MÙA CHINH CHIẾN

photo

ĐƯỜNG TỰ DO

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.....

TÔN THẤT PHÚ SĨ - STATISTIQUES
TÔN THẤT PHÚ SĨ - STATISTIQUES *
TÔN THẤT PHÚ SĨ - NHẠC MÙA CHINH CHIẾN
 
BẢN THỐNG KÊ CHÍNH XÁC
BẠN ĐỌC VÀO XEM MỖI NGÀY
1.460 articles
*
22-01-2015 - 00H00
296.9-718-visiteurs 
23-01-2015 - 00H00
296.918-visiteurs
24-01-2015 - 00H00
297.119-visiteurs
25-01-2015 - 00H00
297.320-visiteurs
26-01-2015 - 00H00
297.547-visiteurs
27-01-2015 - 00H00
297.748-visiteurs
28-01-2015 - 00H00
297.949 -visiteurs
 29-01-2015 - 00H00
...........  -visiteurs
 
TÔN THẤT PHÚ SĨ - NHẠC MÙA CHINH CHIẾN

ĐƯỜNG ĐẾN HOÀNG SA - ĐỂ NHỚ HOÀNG SA ĐÃ MẤT - VŨ THẤT

Publié le 24/01/2015 à 17:04 par tonthatphusi Tags : image centerblog

 

BON SAMEDI

BON SAMEDI

TRANG NHÀ VŨ THẤT

BON SAMEDI

ĐƯỜNG ĐẾN HOÀNG SA - ĐỂ NHỚ HOÀNG SA ĐÃ MẤT

 *

VŨ THẤT 

*
Tôi nhìn về hướng mũi tàu. Sa mù xám đục ngập phủ, ập xuống mặt nước như cố ngăn những lượn sóng ào ạt cuốn vào bờ. Từng loạt gió hâm hấp, cuốn theo các hạt nước bắn lên từ các ngọn sóng ngã đổ, vùn vụt lướt qua chiến hạm. Gió va vào các bộ phận lộ thiên, phát ra những âm vang dị biệt, tạo thành một hợp âm lạ lùng đầy vẻ dọa dẫm. Những vạt nước tóe lên từ bên hông tả hạm, bắn vào mặt vào mắt ran rát và cay xót. Chiến hạm lay lắc, từng khi hích mạnh vào cầu tàu, gây nên những cơn giật bất thường, ngầy ngật.
Ông hạm trưởng nghiêng người nhìn dọc theo hữu hạm, kiểm soát tình trạng sẵn sàng của nhân viên trong nhiệm sở rời cầu. Ông quay sang hạm phó nói bằng giọng điềm đạm như khuôn mặt của ông:
- Biển còn động mạnh quá!
Hạm phó nhìn ông mỉm cười. Tôi thấy những tia hy vọng lung linh từ nụ cười cầu tài đó. Trong bữa cơm trưa vài tiếng trước đây, hạm phó đã đề nghị hoãn khởi hành đi Hoàng Sa thêm một vài ngày. Ông cho rằng việc hoán chuyển quân là việc không gấp gáp, tội gì phải oằn người vì sóng gió. Tôi biết cái lý do thầm kín mà ông không thể nêu ra. Sóng gió đối với ông là chuyện bỏ đi. Đêm qua, ông khoe với chúng tôi là mới quen được với một cô nữ sinh trường Sao Mai và ước ao phải chi cơn bão không tan vội...
Giọng cà tửng quen thuộc của hạm phó:
- Hoãn thêm một ngày nữa là phải quá, thưa hạm trưởng. Một ngày rỗi rãnh, hạm trưởng sẽ làm thêm được vài bài thơ tình, hạm phó sẽ được hưởng thêm những giây phút êm đềm...
Tôi ngước nhìn hạm trưởng với hy vọng ông không đổi ý. Tôi thì một ngày trôi qua nơi bến lạ là một ngày chồng chất nhớ nhung. Nhớ người yêu thì ít, nhớ phố xá Sài Gòn thì nhiều. Lẽ ra giờ này tôi đã ngồi ở một quán kem nhìn ông đi qua bà đi lại. Lẽ ra tôi đã gặp lại người yêu...
- Phải khởi hành thôi, hạm phó. Mình đã trễ một tuần rồi. Đại đội Địa Phương Quân ngoài Hoàng Sa đang mong ngóng được về gặp mặt vợ con. Tôi chỉ mới mười ngày không gặp gia đình mà đã ủ ê, huống hồ họ đã quá hạn sáu tháng....
Ông đổi giọng rắn rỏi, dứt khoát:
-Tháo hết dây, trừ dây số ba.
Tôi vui sướng nghe anh vô tuyến lặp lại mệnh lệnh vào điện thoại nội bộ. Khi các dây đã kéo về tàu, nằm gọn vào ổ, hạm trưởng ban hành các lệnh cần thiết để tách con tàu đang bị sóng gió đẩy dính vào cầu. Đúng vào lúc sợi dây duy nhất còn lại căng bần bật, bốc khói thì mũi tàu từ từ tách khỏi cầu. Con tàu hục hặc, vùng vằng tiến lên. Càng xa cầu, con tàu càng chao đảo. Tiếng gió rít đâu đó như tiếng sáo ở cung bậc cao, hòa quyện với tiếng bầm bập từ tấm vải bố rộng lớn che kín lòng tầu cùng tiếng phần phật từ lá quốc kỳ ở chóp trụ sắt bên trên đài chỉ huy.Tôi ngẩn nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ mới tinh đang năng nổ phất phới tung bay và chợt thấy vui vui, hăng hái....
Con tàu bất ngờ chui vào một vùng mây mù xám xịt. Vô vàn mảng nhỏ xoắn xuýt rồi tan nhanh. Người tôi nóng bừng, bứt rứt. Miệng tôi nhờn nhợn, khó chịu. Mồ hôi rịn ra ở ngực và lưng. Tôi biết là tôi đang muốn mửa. Cái khả năng chịu sóng của tôi qua mấy tháng thực tập hải nghiệp ở quân trường được ghi nhận là yếu. Trong suốt thời gian đó biển ngày nào cũng động, nhưng dù động mạnh hay nhẹ, không ngày nào tôi không ói mửa. Có hôm mửa cả mật xanh mật vàng. Tôi nhớ đã nghĩ đến chuyện đào ngũ, bỏ cuộc. Giờ đây, ý nghĩ đó lại trở về. Tôi đặt ống dòm lên mắt, cố chú tâm quan sát. Phía trước mù mịt. Tôi chúc ống dòm xuống mặt nước. Mặt nước đục ngầu, giận dữ, lồng lộn sủi bọt. Hạm trưởng ra lệnh anh giám lộ kéo còi hải hành trong sương mù. Tiếng còi vang lên kéo dài, bị nuốt chửng vào không gian âm u rồi lại vang lên, kéo dài, đều đặn. Tôi cũng lắng nghe tiếng còi vọng đến từ đâu đó nhưng mọi phía vẫn chỉ là những âm thanh hỗn tạp, khó nghe...
Hạm trưởng bước lại bàn hải đồ mở quyển nhật ký hải hành. Ông đứng viết vài dòng tiêu lệnh rồi bước sang ngồi lên chiếc ghế nệm bọc da duy nhất dành riêng cho ông. Người ông đong đưa, đôi mắt đăm đăm nhìn xuyên qua khung trời mù mịt. Tôi đoán là ông đang ưu tư. Tôi nhớ một lời nói đùa khi học về hải hành trong sương mù. Nó không khác gì... hiệp sĩ mù nghe gió kiếm. Con tàu phải lắng nghe tiếng còi để tránh nhau. Khi “thấy” nhau thì coi như quá muộn.
Hạm phó nói lớn:
- Phòng radar báo cáo ba écho gần nhất.
Tôi nghe lệnh truyền đi và tiếng đáp nhận. Một lúc sau là tiếng báo cáo hướng và khoảng cách. Hạm phó loay hoay đo đạt, chấm tọa độ vị trí chiến hạm lên tấm hải đồ. Ông đề nghị hạm trưởng cho đổi đường. Được chấp thuận, hạm phó ra lệnh anh hạ sĩ quan vận chuyển đứng gần chiếc loa dẫn xuống phòng lái:
- Bên phải năm.
Sau khi anh lặp lại lệnh, có tiếng vọng từ miệng loa:
-Tay lái năm bên phải.
Mũi tàu quay dần về phía hữu. Bất chợt con tàu chao đảo dữ dội. Tôi chụp lấy thành đài, bám chặt. Hạm phó buông thõng chiếc ống dòm lủng lẳng trước ngực, phóng tới ôm chiếc la bàn điện đặt trên một trụ sắt giữa đài chỉ huy. Ông nhìn vào chiếc la bàn, giọng thật sắc:
- Lái thẳng.
Tiếng vọng:
-Lái thẳng, đường năm ba.
Hạm phó ra lệnh tăng tốc độ. Con tàu chúi mũi vào các ngọn sóng bạc đầu, hăm hở tiến lên. Nước bắn tóe vào đài chỉ huy từ mọi phía. Các bộ kaki màu nước biển lấm tấm những đốm xanh thẫm. Hạm trưởng rời khỏi ghế, bước lại bàn hải đồ nhìn vị trí được đánh dấu bằng vòng tròn có gạch chéo. Nó nằm trên con đường hải hành trù định. Hạm trưởng gật gù tỏ vẻ hài lòng. Ông hỏi hạm phó:
- Ai là sĩ quan đương phiên?
- Thưa thiếu úy Túc.
- Ai kế?
- Thưa, Trung Úy Lâm.
Ông quay sang tôi:
- Thiếu Úy Bằng đi ca với Trung Úy Hào.
Ca của Trung Úy Hào bắt đầu tám giờ tối. Không đợi tôi đáp nhận, ông quay sang hạm phó:
- Hạm phó trách nhiệm chỉ huy từ giờ phút này cho đến khi tàu qua khỏi cù lao Chàm. Thiếu Úy Bằng có thể xuống nghỉ ngơi ...
Tôi hăng hái lên tiếng:
- Thưa hạm trưởng, tôi xin ở đây cho đến khi nhận phiên.
Ông gật gù:
- Còn bốn tiếng nữa mới đến phiên. Mệt lắm đó. Tùy anh.
Ông xoay người hướng về cầu thang. Hạm phó hô nghiêm. Tất cả nhân viên đưa tay chào. Đợi hạm trưởng khuất hẳn, hạm phó cười cười với Túc:
- Anh hùng thấm mệt?
Túc tựa lưng vào thành đài, nhăn nhó:
- Đêm qua quần nhau tới sáng. Giờ gặp sóng gió thế này chắc...chết.
- Muốn hạm phó đi giúp ca này chăng?
Túc lắc đầu:
- Có sức chơi có sức chịu. Cám ơn hạm phó.
- Vậy thì tôi sẽ giao phiên khi chiến hạm qua khỏi cù lao Chàm. Bây giờ thì cứ đứng nhắm mắt...cho lại sức.
Nhưng Túc vẫn đăm đăm nhìn xuyên qua tấm kính chắn gió. Thỉnh thoảng anh loạng choạng, quơ tay lung tung để giữ thăng bằng khi con tàu nghiêng quá đà. Tôi biết là tôi chưa làm thế được. Tôi còn cần bám vào một cái gì đó mới giữ được thăng bằng. Tiếng gió rít veo véo, tiếng rào rào của các mảng nước bắn tung, tiếng đì đùng của các đợt sóng ngầm chặt vào lườn. Thỉnh thoảng chiến hạm va phải cơn sóng mạnh, cả thân tàu run rẩy theo tiếng răn rắc vang lên. Tất cả những âm thanh đó gợi tôi cái cảm giác bất an.

Suốt tháng trước, dù được đi ca chung với hạm phó, học hỏi được nhiều nhưng tôi vẫn chưa quen với những tiếng động lạ thường trên chiến hạm.
Tiếng của hạm phó lạc vào âm thanh hỗn độn:
- Thiếu úy Bằng xuống kiểm soát việc trực radar. Đừng để nhân viên thám xuất rời mắt khỏi màn ảnh. Mọi bất thường báo cáo ngay.
Tôi đáp nhận rõ rồi xiên xẹo lần ra đầu cầu thang dẫn xuống phòng lái. Cầu thang như sâu hơn thường ngày. Tôi lần dò đặt chân lên từng bậc. Hai tay bám chặt thanh sắt an toàn. Con tàu chầm chậm nghiêng hết về bên phải rồi vặn mình nghiêng hết về bên trái. Tôi phải dồn toàn lực vào hai tay để bám víu mỗi khi con tàu nghiêng hết về một phía. Sự cộng hưởng tạo một sức ly tâm cực mạnh khiến tôi có thể bị bắn văng khỏi tàu. Xuống đến chân cầu thang, tôi thận trọng bước lần dò về cửa phòng lái. Cửa là một tấm sắt dềnh dàng đóng kín khi sóng to gió lớn. Cần khóa đang ở thế thẳng đứng. Muốn mở, phải vặn cho nó nằm ngang. Trời vẫn oi bức nhưng tôi cảm thấy lành lạnh, rợn người. Với mức độ chòng chành thế này, không cẩn thận chọn đúng thời điểm, cánh cửa ngàn cân có thể bật tung vào người gây thương tích nặng. Và một khi cửa đã mở mà không bước vào kịp, nó sẽ bật vụt lại, chặt gãy tay chân.
Một tay bám vào thanh an toàn, tay kia nắm cần chốt, tôi nín thở chờ đợi. Vừa khi con tàu trở về vị trí thăng bằng, tôi xoay phần tư vòng, mở vụt cánh cửa, lách vô thật lẹ. Chân vừa rút vào thì cánh cửa ập sầm lại. Tôi gài chốt mà... hú hồn. Phòng lái lờ mờ. Tôi bước đến chiếc radar đặt gần vách trong. Anh thượng sĩ thám xuất đưa tay chào. Tôi gật đầu, thân mật:
- Các anh đều...êm cả chứ?
Anh cười:
- Cám ơn Thiếu Úy, tụi này cũng đỡ.
Tôi nhìn vào mặt kính hình vành tròn. Từ điểm trung tâm, một vệt sáng quét chầm chậm tạo nên hình ảnh hải cảng vịnh Sơn Trà. Phần sáng rực là bờ và núi. Phần nhạt hơn là biển với vài ba đốm trắng nổi bậc. Anh thám xuất cho biết các đóm sáng đó là những đối vật di động, có thể là thương thuyền. Anh báo cáo tình hình lên đài chỉ huy. Hạm phó ra lệnh theo dõi và báo cáo liên tục hướng và khoảng cách...
Ánh sáng khi lóe, khi lòe làm mắt và đầu tôi căng nhức. Tôi bước lui, tựa lưng vào vách. Qua lỗ châu mai, mũi tàu cất lên thật cao rồi gục xuống đánh sầm. Một mảng sóng lớn tràn qua mũi như muốn nhận chìm chiến hạm. Nước tốc lên, túa ào ạt vào lòng tàu và ập vào ô kính các lỗ châu mai. Tôi nghĩ thầm, may mà tàu còn ở vận tốc chậm. Nếu máy tiến ở tốc độ đường trường thì coi như là đời đi đứt.
Như để thách đố, một giọng uể oải phát từ miệng loa:
- Phòng lái, hai máy tiến bốn.
Tôi cay đắng mỉm cười. Rồi mày lại thấy mật xanh mật vàng. Rồi mày sẽ còn mửa dài dài, còn khốn khổ dài dài...Tiếng lạch cạch từ cần tốc độ. Tiếng leng leng báo hiệu máy đã tăng. Nhìn về tả hạm qua lỗ châu mai, một khoảng không gian nhỏ bé chầm chậm chuyển từ vòm trời âm u sang vùng biển xáo động và ngược lại. Con tàu liên tục vật vã, giật mình, rên rỉ...
Tôi lại thấy ngột ngạt, bụng quặn lên, nước mắt ứa tràn. Đến cơn quặn đau thứ ba, tôi phóng tới chiếc sô đặt gần cửa ra vào. Chưa kịp gục mặt xuống, miệng đã há rộng. Tôi nôn thốc hết thức ăn bữa trưa. Rồi tiếp tục các chất bầy nhầy lợn cợn chừng là thức ăn chưa kịp tiêu của ngày hôm qua và ngày trước đó. Nước mắt tôi ràn rụa. Tôi nín thở mà vẫn ngửi được mùi tanh hôi nồng nặc. Tôi không dám đứng lên, vẫn tiếp tục ôm chiếc sô chờ tới phiên mật xanh mật vàng. Trong giây phút toát mồ hôi đó, đầu óc tôi chợt hiện ra hình ảnh câu ca dao đã được một anh thủy thủ hiệu đính nhân một lần thấy tôi ói mửa: Hôm qua lên gác đài cao, trông cá cá lặn trông sao sao mờ, buồn trông thiếu úy ôm sô.... Tôi thấy vui vui và bỗng nghe người nhẹ đi. Một cảm giác dễ chịu lan nhanh. Theo kinh nghiệm, tôi hiểu là công tác...nuôi cá đã tạm dứt và từ giờ có quyền... chờ dịp khác. Tôi gắng gượng đứng lên, bám vào vách, hổn ha hổn hển. Đúng lúc đó tôi nghe văng vẳng giọng ca Thanh Thúy. Tôi tưởng tôi đang mê nên cố lắng tai...Giọng ca nỉ non, rõ ràng từng tiếng: “... thì dù xa xôi tôi vẫn là của người”... Tôi bậc cười thì thầm: “cám ơn em, cho dù có em ở đây, anh cũng chẳng... ăn được cái giải gì!”.
Nghe tiếng tôi cười, anh hạ sĩ vận chuyển quay sang:
- Phòng vô tuyến chơi điệu lắm, Thiếu Úy. Những lúc sóng to, biển động, họ mở nhạc yêu cầu nghe hết xảy!
Tôi gật đầu tán đồng nhưng không dám lên tiếng. Tôi biết, nếu há miệng, tôi sẽ không nói mà là mửa tiếp. Tôi nín hơi cố ngăn một cơn nôn. Giọng ca nức nở, ngọt ngào như ru tôi vào cõi mộng...” Nhiều khi ưu tư, tựa song cửa nhỏ, nhìn ngoài mưa tuôn sao nghe lạnh vào hồn”... Tôi thấy lạnh ở thân nhưng hồn thì tan theo tiếng hát.
- Mời Thiếu Úy Bằng lên đài chỉ huy gặp hạm phó.
Tôi nói lớn đáp nhận rồi dứt khoát bước nhanh về cánh cửa sắt. Tôi xoay cần chốt, vừa đẩy mạnh vừa kềm giữ. Cánh cửa bật tung. Tôi bước nhanh ra. Cửa tự động ập lại. Tôi xoay cần chốt khóa chặt. Gió rít từng hồi mang theo những giọt nước li ti bắn túa vào người. Tôi lại lạng quạng từng bước lên các bậc thang. Con tàu chao nghiêng, trườn tới rồi chao nghiêng, chừng như đang biểu diễn một điệu luân vũ giữa muôn ngàn hoa sóng. Chiếc mũ lưỡi trai bất ngờ rời khỏi đầu. Tôi ngoái lui. Chiếc mũ bay vụt cao, la đà rồi lại vụt cao và mất hút. Cơn ớn lạnh len dài theo xương sống. Tôi nhớ ra là đã quên cái áo mưa trong phòng lái. Tôi muốn trở lui nhưng nghĩ đến phút giây phải mở cánh cửa chết người nên đành chịu ướt, chịu lạnh bước tiếp. Hạm phó nhìn tôi cười:
- Gọi cậu lên đây xem sức cậu tới đâu! Khá lắm! Thôi, xuống nghỉ ngơi đi. Vài giờ nữa nhận phiên là....thăm thẳm chiều trôi đấy.
Mệt quá, tôi không cười nổi với lời đùa của ông và cũng lờ đi lời nói ngon lành với hạm trưởng mới đây. Tôi chào từ biệt hạm phó và Thiếu Úy Túc. Có lẽ phải mất đến mười phút tôi mới lần dò tới được chiếc giường êm ấm của tôi bên trong lòng tàu. Nhưng chỉ cần vài phút là tôi đã chìm vào giấc ngủ mê man...

Tôi chợt thức giấc vì cảm nhận một sự êm ả bất thường. Chiến hạm không còn đong đưa, lay lắt, không còn rên rỉ vì những cú đập tàn bạo của các đợt sóng ngầm. Tôi nghe máy tàu vẫn còn chạy ở vận tốc cao nhưng dường như đang hải hành trong một vùng vịnh không sóng gió. Tôi nhìn đồng hồ: 7giờ sáng. Đêm qua tôi bị đánh thức để nhận đi phiên từ tám giờ tối đến nửa khuya. Bốn tiếng chịu đựng những cơn tiện xoáy bào quả là dài đăng đẳng. Đôi lúc tôi tưởng chừng kiệt sức, gục qụy. Khi rời đài chỉ huy, biển còn động dữ dội. Không lẽ chỉ qua một giấc Nam Kha mà lại êm ru bà rù? Thì cũng có thể lắm. Giấc Nam Kha kéo dài suốt bảy tiếng, đủ để tàu vượt qua một đoạn đường dài, dứt bỏ vùng bão tố.
Bụng tôi chợt cồn cào, ran ran. Tôi nhớ ra là tôi đã bỏ bữa ăn tối qua, đã mửa liên tục. Tôi cũng nhớ ra nhiệm vụ chính của tôi trên chiến hạm là kiểm soát việc ăn uống của thủy thủ đoàn. Bây giờ là giờ điểm tâm. Tôi ngồi bật dậy, cảm nhận cơn mệt mõi rã rời... Tôi rửa mặt thật chậm, tận hưởng cơn sảng khoái từ độ mát mẻ của nước. Tôi sửa sang tề chỉnh quân phục rồi bước lên nhà bếp. Hai nhân viên hỏa đầu vụ đưa tay chào. Tôi chào đáp và hỏi:
- Trung Sĩ Tuyến đâu, anh Cát?
- Thưa Thiếu Úy, trung sĩ đang kiểm soát phòng ăn đoàn viên. Thiếu cần, tôi đi gọi?
Tôi nhìn nhà bếp gọn gàng, sạch sẽ:
- Thôi khỏi. Còn thức ăn sáng cho sĩ quan?
- Tôi dọn thêm món trứng chiên này là xong. Thiếu Úy đã bỏ cơm chiều hôm qua...
Tôi cười gượng:
- Sáng nay chắc cũng thế.
Giọng Cát vui vẻ:
- Biển đã yên. Ăn được rồi, thiếu úy.
Tôi lắc đầu:
- Vấn đề là...ăn không vô. Thức ăn chưa qua khỏi cổ là...vọt ra liền! Hy vọng bữa trưa, may ra.
- Trưa không chừng mình có vít ăn. Hoàng Sa có nhiều vít, thịt ngon hơn thịt gà.
- Vít là con gì vậy?
- Một loại rùa nhưng lớn hơn con ba ba nhiều.
Tôi cười, lắc đầu:
- Rùa rắn là không có tôi.
Tôi bước qua khung cửa vào lòng tàu. Cả đại đội Địa Phương Quân còn say sóng nằm la liệt từ mũi tới lái. Họ như ngủ say sưa, mà thật ra họ đang mê thiếp, như tôi đêm qua. Nhiệm vụ buộc tôi phải... tỉnh lại. Chỉ vài giờ nửa thôi, họ sẽ hạnh phúc lên bờ. Còn tôi, trọn đời khó thoát khỏi biển. Tôi leo vội lên đài chỉ huy đúng lúc tiếng còi đổi phiên vang lên. Tôi chào Trung Úy Lâm. Ông đưa tay, thân mật:
- Biết chú mầy thường lên sớm nên tôi đang mong đây. Lái dùm tôi cho đến khi trung úy Hào lên nhận phiên. Tôi có việc xuống sớm một tí.
Không cần biết tôi bằng lòng hay không, ông tỉnh bơ rời vị trí. Tôi tưởng ông đùa vì ông thừa biết tôi chưa đủ khả năng hải hành. Tôi mới ra trường được một tháng mà theo hạm trưởng phải ít nhất sau năm bảy chuyến công tác tôi mới được đánh giá làm trưởng phiên. Tôi chợt lo lắng, nhìn quanh xa khơi. Không bóng dáng một chiếc tàu thuyền nào. Chỉ bao la một thảm xanh lao xao, lấp lánh. Muôn ngàn tia sáng chạy dài đến tận mặt trời chưa lên cao. Gió nhẹ, mát rười rượi. Tôi hít một hơi dài, thấy an tâm và hãnh diện. Việc ủy thác của Trung Úy Lâm hẳn đã dựa vào thành quả một tháng cố gắng học hỏi tận tình của tôi.
Nhớ đến việc đầu tiên phải làm khi nhận trưởng phiên hải hành là xác định vị trí chiến hạm, tôi bước sang bàn hải đồ nhìn vào hải trình. Hàng chục vòng tròn nhỏ có gạch chéo cách đều nhau trên một đường kẻ kéo dài từ cù lao Chàm đến trung tâm quần đảo Hoàng Sa. Vòng cuối cùng với ghi chú 1100H, nằm cách không xa một nhóm đảo trông giống như là những quả trứng lớn nhỏ nằm ngổn ngang. Tôi hiểu là còn khoảng ba tiếng nữa sẽ đến điểm đổ bộ.
Tiếng Trung Úy Hào từ phía sau:
- Mình đến đâu rồi, Thiếu Úy Bằng?
Tôi quay lại đưa tay lên chào nhưng anh chỉ cười cười đưa tay ra bắt:
- Còn sức lên nhận phiên sớm là ngon quá rồi. Cứ tưởng anh hùng đã thấm mệt!
Tôi ráng nở nụ cười:
- Thưa trung úy, theo phỏng định thì còn ba tiếng nữa là đến điểm đổ quân.
- Cụ tin vào cái vị trí phỏng định là có cơ hội chẳng bao giờ thành... hạm trưởng. Trong tình trạng sóng to gió lớn, vị trí phỏng định là vị trí ...bi quan nhất. Từ chiều hôm qua chúng ta đi với hướng sóng gió chếch mũi. Chúng ta đã cho lái “trừ hao” độ dạt. Và chúng ta đã phỏng định tốc độ là mười hai gút. Thật sự giờ này chúng ta ở nơi nào trên biển, chỉ có...Trời biết. Không chừng ta đã lạc sang vùng Amphitrite Group của người dưng khác họ hoặc tệ hại hơn là đang vào vùng nước cạn North Reef với những xác tàu chìm. Nói cho cùng, gặp cái nào thì cũng thân bại danh liệt. Tốt hơn hết là bắt đầu theo dõi độ sâu.
Anh đổi giọng sắc và lớn:
- Phòng lái, cho biết chiều sâu mỗi năm phút. Radar báo cáo ngay khi phát hiện echo. Thiếu úy Bằng và các quan sát viên quan sát cẩn thận bằng ống dòm, từ hướng 9 giờ đến 3 giờ.
Hào dò nhìn lên tấm hải đồ khi nghe phòng lái báo cáo chiều sâu. Anh gật gù vói tay lấy chiếc ống dòm rồi bước sang chiếc ghế sắt gắn vào thành đài. Anh ngồi tréo chân thoải mái, chầm chậm quét ống dòm quanh hướng mũi chiến hạm. Anh hạ sĩ quan phụ tá trưởng phiên, anh giám lộ và tôi cùng đưa ống dòm lên mắt. Vẫn chỉ là mặt biển lóng lánh, thăm thẳm, mênh mông... Con tàu thênh thang phóng tới, bọt biển tỏa hình cánh chim, đổ về phía sau thành một tràng dài trắng xóa.
Cột cờ trơ trọi cuối lái gợi tôi nhớ lá cờ trên đỉnh đài chỉ huy. Tôi bước ra phía ngoài ngẩn mặt. Tôi nhìn trân trân. Lá cờ đã nhạt màu, phần đuôi rách te tua. Lá cờ vẫn bay phất phới nhưng uyển chuyển, nhẹ nhàng, trái hẳn hình ảnh vẫy vùng, mãnh liệt chiều qua. Tôi có cảm tưởng lá cờ cũng cùng mang sức sống như chúng tôi, cũng chịu đựng những vất vả gian nan, cũng tận hưởng những niềm vui thành đạt.
- Báo cáo có echo hướng một giờ, khoảng cách 28 hải lý.
Tự dưng tôi thở ra nhẹ nhỏm. Hào đứng thẳng lên, chếch ống dòm về phía tay mặt. Anh chầm chậm, thật chậm quét ống dòm qua lại. Được vài phút, anh rời ghế, chạy vội xuống phòng lái. Khi trở lên, anh cười tươi tắn:
- Hải hành phỏng định mà... chính xác gớm!
Anh nhấc điện thoại:
- Thưa hạm trưởng, tôi trung úy Hào. Trình với hạm trưởng, đã thấy đảo hướng một giờ, cách 27 hải lý bằng radar. Chưa thấy bằng ống dòm.
Anh lặng thinh nhận chỉ thị một lúc, đáp nhận rõ và gác máy. Anh nhìn la bàn, ra lệnh:
- Lái đường một-không-sáu.
Hào đưa ống dòm lên mắt. Tôi bắt chước anh. Biển vẫn thăm thẳm, chập chùng đến ngầy ngật. Dường như gió đổi chiều, đưa ngược khói tầu lên tận đài chỉ huy. Mùi khói khó ngửi nhưng lại gợi tôi thèm một điếu thuốc. Tôi đã quên nó từ lúc tàu khởi hành. Tôi mở nắp túi, gắn điếu thuốc lên môi, thong thả châm lữa. Tôi nhả ngụm khói đầu tiên rồi hít một hơi dài tưởng chừng như đang hôn người yêu. Bất ngờ tôi sặc sụa và nghe bứt rứt khó thở. Chưa hút được. Tôi nhủ thầm, dứt khoát ném điếu thuốc. Nó nương theo gió bay thật xa rồi rơi hút vào bọt biển.
Bầu trời trong sáng, xanh ngát, không một dấu vết sa mù. Gió nhè nhẹ, mát rượi. Tôi hít một hơi sảng khoái và thấy lại yêu đời yêu biển...
Hạm trưởng xuất hiện ở chân cầu thang. Tôi báo cho Hào. Anh ra dấu cho nhân viên. Tất cả chỉnh đốn lại quân phục, tư thế. Tôi hô nghiêm và đưa tay chào khi ông đặt bước lên đài chỉ huy. Ông thân mật hỏi han từng người. Tôi là người cuối cùng.
- Thiếu úy Bằng trông tỉnh táo lắm. Được lắm.
Tôi chỉ biết lí nhí cám ơn. Ông chưa yên vị trên ghế thì có tiếng báo cáo:
- Đã thấy đảo hướng mười hai giờ.
Tôi chụp ống dòm. Tôi vốn nôn nao, nôn nóng muốn biết cái... dung nhan mùa hạ của cái quần đảo đã làm tôi khốn khổ, đau đớn. Phải khó khăn lắm tôi mới trông thấy một vệt đen trên đường chân trời. Vệt đen đó dần dần rõ dạng. Nó vươn cao cùng lúc lô nhô những ngọn cây. Rồi toàn bộ cái đảo thấp lè tè. Tôi cảm thấy thất vọng. Hoàng Sa là thế đó sao? Tôi quét chiếc ống dòm thành vòng 360 độ. Tất cả vẫn chỉ là mặt biển xanh thẩm mênh mông.
Hạm trưởng ra lệnh từ chiếc ghế dành riêng cho ông:
- Trung úy Hào có thể cho bớt máy.
Hào ra lệnh, không do dự:
- Hai máy tiến ba.
Sau tiếng leng keng, cường độ tiếng máy dịu hẳn đi. Tôi cũng cảm nhận được sự giảm tốc của con tàu. Sự thất vọng của tôi cũng tiêu tan. Tôi nhìn thấy thêm hai hòn đảo nữa bằng mắt thường. Tôi không ngờ trên đời lại có những hòn đảo nhỏ và thấp đến thế. Chúng chỉ vừa đủ nổi trên mặt nước. Một trông như con rùa đang bơi bập bềnh và một như chiếc tiềm thủy đỉnh đang lặng lờ trôi. Giữa cái mênh mông của sóng nước, hai hình ảnh đó trông lạ và đẹp mắt.
Cơn mỏi mệt, ngật ngừ bỗng dưng tan biến. Người tôi chợt xao xuyến, lâng lâng. Một mùi hương lạ thoang thoảng, sảng khoái. Mùi hương đã đến với tôi lần đầu khi chiến hạm hướng mũi vào sông Lòng Tảo sau chuyến công tác đầu tiên. Mùi đất liền. Chỉ những ai đi biển lâu ngày mới nhận ra mùi hương tuyệt diệu đó...
Hạm trưởng lên tiếng nhận quyền chỉ huy. Ông ra lệnh nhận còi nhiệm sở vận chuyển và cho giảm máy. Con tàu sựng lại rồi tiến thư thả trên vùng nước trong veo, phô bày đáy biển toàn cát đá trắng. Xa xa hai bên hông là những dãy san hô ngầm long lanh ánh sáng. Chẳng bao lâu hòn đảo thấp lè tè hiện ra trước mắt thường. Tôi chỉ một đóm trắng nằm ở cuối đảo, hỏi ông trung sĩ giám lộ đứng gần:
- Có cái gì màu trắng? Anh có nhận thấy không?
- Thưa thiếu úy, đó là đài khí tượng. Chúng ta có một toán khí tượng hoạt động trên đảo. Tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển là từ đài đó.
Tôi cười vui sướng với một khám phá mới mẻ....
Vào đúng thời điểm đã định, hạm trưởng ra lệnh thả neo. Con tàu xuôi theo gió nằm song song với hòn đảo khá lớn. Hòn đảo có những lùm cây rậm rạp sau một bãi cát trắng chạy vòng. Cuối bãi cát về phía mặt là một tòa nhà màu trắng vươn cao. Đó chính là đài khí tượng. Nổi bật trên nóc tòa nhà là lá cờ vàng ba sọc đỏ đang ngạo nghễ phất phới giữa nền trời xanh. Tôi đăm đăm nhìn lá cờ. Như một thói quen, tôi chụm hai chân đứng vào thế nghiêm, đưa bàn tay lên ngang mày.
Trong tôi, những xúc động dạt dào dâng lên....
*

(Trích hồi ký ĐỜI THỦY THỦ, Sài Gòn 1969)
 Vũ Thất

BON SAMEDI

LA COLLINE - HENRI DE REGNIER - NGỌN ĐỒI - tôn thất phú sĩ

NGƠ NGÁC GIỮA ÂM XA

Thân  tặng Tác Giã " ĐỜI THUỶ THỦ " 

 

Thôi đã hết nay xin  từ giã biển
Vẫy  tay chào  nước mắt ướt quanh mi
Ta muốn gởi cho ai  lời trăn trối
Biết biển  buồn khi tiễn một người đi
 *
Trong yên lặng nhìn  trùng  khơi thức  giấc
Màn đêm đen  lùi khuất sau chân trời
Biển hiểu  không  khi vừng Đông rực sáng
Lòng nhớ nhung ta nuối tiếc ... Biển ơi !
 *
Sóng vẫn vỗ vào mạn thuyền già  cỗi
Điệu  ru mềm hôn mái tóc rong rêu
Ta và Thuyền  lặng nhìn nhau lần cuối
Để ngàn đời ngơ ngác giữa  âm xa
 *
Cõi trần gian mong manh là bọt sóng
Tan vỡ dần theo gió khóc phân ly
Ta  đã đến khi biển thầm thì gọi
Giờ ra đi biển có nhớ nhung gì
 *
Con tàu đó xác thân  vùi trong cát
Nửa thân tàn nằm yên ngủ thâm sâu
Nửa thân kia vương víu vọng trời cao
Con chim biển khóc tình sao Bắc Đẩu
 *
Ta cùng  tàu quảng  đời  dài  gắn bó
Hải âu bay quấn quít suốt một thời
Giờ buông tay nhìn biển xanh chới với
Ta xin làm con sóng vỗ về em
*
Tôn Thất Phú Sĩ

BON SAMEDI